Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng » Pháp luật - Xã hội » Nỗi oan khiên của người con gái đất Nam Xương

Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, người đã thuỳ mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.

  • >> Lễ cưới khiến đất nước rối bời của công chúa câm

  • >> Những chiến thuật kinh điển của QĐND Việt Nam (kỳ 3)

  • >> “Giải” ẩn số Ỷ Lan bức chết vợ vua, 72 cung nữ

  • >> Kỳ cuối: Cái chết bí ẩn của Hoàng đế Quang Trung

  • >> Những báu vật truyền ngôi của vương triều Nguyễn


Trong làng có chàng Trương Sinh, mến nàng vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về. Song Trương Sinh có tính hay ghen, đối với vợ phòng ngừa thái quá. Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không để lúc nào vợ chồng phải đến bất hoà. Cuộc đoàn viên chưa được mấy lâu thì Nhà nước có việc đi đánh Chiêm Thành, bắt nhiều lính tráng. Trương tuy con nhà dòng nhưng không có học, tên đã ghi trong sổ trai tráng phải sung binh.

Ngày đi, mẹ già, vợ trẻ, con thơ ra tiễn tận ngõ xa, nàng mới bảo với chồng: “Lang quân đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Lúc bấy giờ nàng đã có thai, sau khi tương biệt được mươi ngày thì sinh một đứa con trai, đặt tên là Đản.

Ngày qua tháng lại, thoắt đã nửa năm. Bà mẹ cũng vì nhớ con mà dần sinh ốm. Nàng hết sức thuốc thang, lễ Phật cầu thần, cúng ma gọi vía và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn, song bệnh tình ngày một trầm trọng hơn. Trước khi chết, bà mẹ trăn trối lại rằng: “Sau này trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, mong ông xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ”.

Bà cụ nói xong thì mất. Nàng Vũ Thị Thiết lo chu tất ma chay, tế lễ như đối với cha mẹ ruột mình. Qua năm sau, giặc Chiêm chịu trói, quân nước kéo về, Trương Sinh tới nhà thì mẹ đã mất, con vừa học nói. Chàng hỏi mộ mẹ rồi dắt con nhỏ ra thăm. Thấy chàng bảo gọi cha, đứa con nhỏ ngơ ngác: “Ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít”.

Nỗi oan khiên của người con gái đất Nam Xương. (Ảnh minh hạo)

Chàng ngạc nhiên gạn hỏi, đứa con nói: “Khi ông chưa về đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến. Mẹ đi cũng đi, mẹ ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”. Tính chàng hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh chắc là vợ hư, không cách gì tháo cởi ra được. Về đến nhà, chàng bèn mắng vợ một bữa cho hả giận. Nàng mới khóc mà rằng: “Thiếp vốn nhà nghèo, được vào cửa tía. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn, từng đã nguội lòng, ngõ liễu đường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói”.

Chàng vẫn không tin. Nhưng nàng hỏi chuyện kia từ ai nói ra thì giấu không kể lời con nói; chỉ thường thường mắng mỏ nhiếc móc và đánh đuổi đi. Họ hàng làng xóm bênh vực và biện bạch cho nàng cũng chẳng ăn thua gì cả. Nàng bất đắc dĩ nói: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng, vì có cái thú vui nghi gia nghi thất, có sự yên ổn được tựa bóng cây cao. Đâu ngờ ân tình tựa lá, gièm báng nên non.

Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa gãy cuống, kêu xuân cái én lìa màn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa”. Đoạn rồi nàng tắm gội sạch, ra bến Hoàng Giang, ngửa mặt lên trời mà than: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ.

Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa dối chồng con, dưới xin làm mồi cho cá, trên xin làm cơm cho diều quạ, chẳng những là chịu khắp mọi người phỉ nhổ”, nói xong gieo mình xuống sông mà chết. Chàng tuy giận là thất tiết nhưng thấy nàng tự tận, cũng động lòng thương, tìm vớt thây nhưng chẳng thấy đâu. Một mình phòng không vắng vẻ, đến đêm khêu bấc đèn lên, không sao ngủ được, thì chợt đứa con nói rằng: “Cha Đản lại đến rồi”, tay đứa bé chỉ vào cái bóng của chàng trên vách. Trương Sinh tỏ rõ sự tình nhưng đã quá muộn.

Qua năm sau, có một người làng tên Phan Lang, trước làm đầu mục bến đò Hoàng Giang, vì có ơn cứu được Linh Phi ngoài bể Đông. Khi có tao loạn nhà Hồ, Phan và người làng sợ hãi chạy trốn ra ngoài bể, tất cả đều đắm thuyền chết, chỉ có Phan dạt vào một cái động, được Linh Phi cứu giúp. Trong thuỷ cung, chàng vô tình gặp lại Vũ Thị Thiết.

Nàng mới nói với Phan: “Tôi ngày trước không may bị người vu báng, phải gieo mình xuống sông tự tử. Chư tiên thương tôi vô tội, rẽ một đường nước để khỏi chết, nếu không thì đã chôn trong bụng cá, còn đâu mà gặp ông”. Khi Phan ngỏ ý muốn về, nàng mới gửi chiếc hoa vàng về cho chồng. Trương ban đầu không tin, nhưng nhìn vào kỉ vật của vợ mới giật mình. Chàng bèn theo lời dặn, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang.

Đền thờ Vũ Thị Thiết ở xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Ảnh Tư liệu.

Quả nhiên trong làn hơi nước mù mịt, thấy nàng hiện về ở giữa dòng, theo sau có đến hơn năm mươi chiếc xe, cờ tàn cán lọng rực rỡ đầy sông. Chàng vội gọi, nàng mới ở giữa dòng mà thưa: “Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể về lại nhân gian được nữa”. Nói rồi trong chốc lát, những cảnh tượng ấy chìm đi mất”.

Luật nay: Làm nhục vợ dẫn đến tự vẫn, Trương Sinh phải trả giá đắt

Chuyện người con gái đất Nam Xương được Nguyễn Dữ ghi chép lại trong tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục” bắt nguồn từ một câu chuyện lưu truyền trong dân gian có tên “Vợ chàng Trương”, kể về mối oan khiên của một người vợ là nàng Vũ Thị. Cái chết oan của nàng được các bậc thần linh linh ứng chứng minh, được người đời tỏ tường.

Tuy nhiên, nếu gạt đi lớp vỏ bọc của chuyện linh ứng, có thể nhận thấy đây là một vụ việc đau lòng, có thể bắt nguồn từ chính hiện thực đời sống. Nàng Vũ Thị vì ngày ngày mong mỏi chồng nơi chiến trận, thương đứa con thơ chưa biết đến tiếng cha mà chỉ lên cái bóng của mình trên vách bảo với con đó là cha của nó. Nàng cũng không ngờ đây lại trở thành nguồn gốc cho bi kịch của đời nàng. Đứa trẻ thơ không biết gì, đinh ninh đó là cha của mình để đến khi chàng Trương trở về, nó không tránh khỏi nghi ngờ người đàn ông trước mặt là cha.

Trương vì ghen, vì nghi ngờ vợ hư mới đối xử thậm tệ, buông lời nhục mạ và đánh đuổi nàng ra khỏi nhà dẫn tới việc nàng tự tử. Việc Linh Phi cứu giúp nàng chỉ là thể hiện ước muốn của người dân về việc ở hiền gặp lành, người tốt sẽ được phù trợ còn sự thực thì nàng đã gieo mình xuống dòng Hoàng Giang chết. Cái chết oan khiên của nàng đồng thời là cái giá đắt cho người chồng vì ghen tuông mà mờ mắt. Khi sự thực được bày tỏ, cái bóng trên tường không thể nào giúp Trương tìm lại vợ, không thể nào đem trả lại cho con trai Trương người mẹ hiền.

Xét về nghĩa tình, Trương đã sai vì vợ chồng ăn ở với nhau nhưng không có sự tin tưởng, chưa có điều tra ngọn ngành đã vội kết tội cho vợ, đồng thời buông lời nhục mạ về danh tiết của nàng khiến nàng tủi hổ với gia đình, cha mẹ, hàng xóm. Xét ra, trong cái chết của nàng thì chàng Trương cũng phải chịu trách nhiệm. Luật xưa chưa có sự quy định rõ ràng về điều này. Nhưng nếu áp dụng theo luật nay, chàng Trương khó tránh khỏi trách nhiệm hình sự về tội bức tử. Theo khoản 1 Điều 100 BLHS: Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Như vậy, xét theo luật nay, chàng Trương Sinh sẽ phải chịu mức án từ hai năm đến bảy năm tù.

Trước kia, Nguyễn Dữ đã từng than: “Than ôi! Những việc từa tựa như nhau, thật là khó tỏ mà dễ hoặc. Cho nên quăng thoi đứng dậy, tuy mẹ bậc đại hiền cũng phải phân vân, mất búa đổ ngờ tuy con người láng giềng cũng khó chối cãi, ý dĩ đầy xe, Quang Võ đổ ngờ lão tướng, “trói lại mà giết”, Tào Tháo đến phụ ân nhân, việc Thị Thiết cũng giống như vậy. Nếu không được trời xét tâm thành, nước không làm hại, thì xương hoa vóc ngọc, đã chôn vào họng cá ở dưới lòng sông, còn đâu được lại thông tin tức để nết trinh thuần được nhất nhất bộc bạch ra hết. Làm người đàn ông, tưởng đừng nên để cho giai nhân oan uổng thế này”, âu cũng là một cách nhìn nhận của người xưa một cách thấu tình, nhưng chưa đạt lý.

Trong truyện, gần như Trương Sinh chỉ phải chịu mức án với lương tâm, với đứa con thơ thiếu mẹ, còn về luật pháp thì vô can. Người chết đã chết, sự hối hận không làm nàng sống dậy. Kẻ gây ra cái chết của nàng lại là kẻ đầu ấp tay gối, lại có với nhau một mặt con lại càng phải chịu một mức án thoả đáng để làm gương răn dạy những kẻ khác. Nguyễn Dữ rút ruột để phải thốt lên: “Làm người đàn ông, tưởng đừng để cho giai nhân oan uổng thế này”, cũng là một câu hỏi để người đời tự nhìn vào soi xét.

(BNDT)

Kết bạn với Thủ tướng trên Facebook
Thích và chia sẻ bài này trên Facebook
Tags: , Vũ Thị Thiết
Share on Link Hay! Share on Facebook! Tweet This!

Hiện chưa có phản hồi nào.

Gửi phản hồi

  • Tổng bí thư

    Nguyễn Phú Trọng

  • Chủ tịch nước

    Trương Tấn Sang

  • Chủ tịch Quốc hội

    Nguyễn Sinh Hùng

  • Biển đảo Việt Nam

    Trường sa - Hoàng sa